Loại nấm ăn kìm hãm tế bào ung thư

Bên cạnh các loài nấm trồng có tác dụng hỗ trợ việc điều trị ung thư như Agaricus blazei, Coriolus versicolor, Ganoderma lucidum, gần đây Bảo tàng giống chuẩn vin sinh vật (VTCC) thuộc Trung tâm công nghệ sinh học (Đại học Quốc gia Hà Nội) lại có thêm một chủng nấm ăn đã được không ít nghiên cứu trên thế giới xác định là có nhiều tác dụng trong y học, nhất là khả năng kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư. Đó là nấm nhộng trung thảo (Cordyceps militaris (L. ex Fr) Link). Trung Quốc gọi là dõng trùng thảo (dõng là con nhộng tằm). Nhộng trùng thảo là loài nấm cùng chi với đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis (Berk) Sacc.) – một loài nấm quý, rất đắt tiền và cũng rất khó phân lập.
Nhộn trùng thảo được Xí nghiệp dược phẩm tỉnh Cát lam (Trung Quốc) phân lập từ năm 1986, năm 1990 đã nuôi cấy thành công trong nồi lên men. Năm 1994 đã đưa vào sản xuất lớn trên nhộng tằm (Bombyx mori) và trên nhiều loại ấu trùng của các côn trùng khác nhau. Sau khi ăn hết chất dinh dưỡng bên trong các sâu nói trên, loài nấm này sẽ mọc ra một quả thể (còn gọi là đệm nấm – stroma) gần giống như đông trùng hạ thảo và đâm lên khỏi mặt đất (vào mùa hè).
Các nhà khoa học chú ý nhiều đến dược lý và năng lữ chữa bệnh của nhộng trùng thảo. Hàm lượng của mấy hoạt chất quan trọng so với đông trùng hạ thảo không thua kém, thậm chí còn cao hơn.
Tháng 11.1990 và tháng 4.1991, Trạm vệ sinh phòng dịch Thẩm Dương (Trung Quốc) đã công bố kết quả kiểm nghiệm về giá trị an toàn thực phẩm của nhộng trùng thảo và xác nhận không có độc tính, có thể gọi là thực phẩm an toàn.
Rất nhiều nghiên cứu sâu sắc về dược lý của nhộng trùng thảo đã được công bố. Sau đây là một số thông tin đáng chú ý:
Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng nhộng trùng thảo được sử dụng có hiệu quả để chữa trị nhiều bệnh, như rối loạn chức năng của gan (Nan J.X et al. 2001), ung thư (Yoo H.S et al. 2004), sự lão hóa, các chứng viêm tấy (Won S.Y and Park E.H. 2005). Đặc biệt nó được đánh giá có tác dụng tốt đối với thận và phổi theo y học cổ truyền Trung Quốc. Gần đây rất nhiều tính chất dược lý của loài nấm này đã được ông bố: Dịch chiết xuất nấm bằng cồn có thể kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn lao Mycobaerium tuberculosis H37Rv, đẩy nhanh quá trình chuyển hóa các acid nucleic và protein tại tụy; có tác dụng đối với kích tố sinh dục nam; tác động đến hệ tuần hoàn như chống lại sự thiếu oxy, tăng cường sự lưu thông máu, giảm hàm lượng cholesterol trong huyết thanh…; có tác dụng chống viêm nhiễm; có tác dụng chống ung thư: kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư vú, tế bào ung thư phổi…; kìm hãm sự phát triển của một số virus và vi khuẩn.
Một trong những giá trị chính của nhộng trùng thảo là kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư. Dịch chiết bằng nước ấm đối với nấm này đã có thể kìm hãm sự phát triển của dòng tế bào ung thư máu ở người bằng cách gây ra hiện tượng tự chết (apoptosis) của các tế bào này thông qua sự hoạt hóa enzym caspase-3 (Lee H.et al., 2006, Park C. et al., 2005). Dịch chiết từ nhộng trùng thảo đã thể hiện là có tiềm năng to lớn trong việc chữa trị ung thư máu (laukemia). Các nhà khoa học cũng đã sử dụng dịch chiết xuất từ nhộng trùng thảo để thử nghiệm trên các dòng tế bào bình thường và các dòng tế bào ung thư. Kết quả cho thấy hai dòng tế bào K562 (tế bào ung thư máu-leukemia) và Du145 (tế bào ung thư tuyến tiền liệt-prostate carcinoma) bị ức chế mạnh bởi dịch chiết xuất bằng butanol từ nhộng trùng thảo (Kim et al. 2006). Yoo H. S. và cộng sự đã chứng minh rằng nhộng trùng thảo có tác dụng chống lại sự tạo thành các mạch máu mới (angiogenesis) bằng cách giảm sự biểu hiện của bFGF, một trong những nhân tố kích thích quá trình này. Do có vai trò kìm hãm trong quá tình angiogenesis mà nhộng trùng thảo có thể ngăn chặn được quá trình di căn và sự phát triển của ung thư.
Ngoài ra nhộng trùng thảo còn có tác dụng kìm hãm sự oxy hóa của lipit, lipoprotein và lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL). Chất chống oxy hóa có trong nhộng trùng thảo có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa một số bệnh gây ra bởi một loạt phản ứng oxy hóa dẫn đến việc phá hoại AND, protein và các phân tử lớn khác. Những hiện tượng trên dẫn đến sự thoái hóa hoặc làm tăng mức độ của một số bệnh như: lão hóa, hen và ung thư (Klaunig J.E and Kamandulis L.M., 2004; Balaban R.S. et al., 2005). Một số chất chống oxy hóa đã được tổng hợp nhân tạo như butylated hydroxyanisole (BHA) (Thompson D. and Moldeus P. 1998) hoặc như butylated hydroxyluene (BHT) (Witschi H.P. 1986; Thompson D. and Moldeus P. 1988). Do đó việc sử dụng nhộng trùng thảo trong việc chống oxy hóa, đề kháng lại với bệnh tật là vô cùng có giá trị trong y học. Dịch chiết xuất bằng nước từ nhộng trùng thảo làm kích thích sự trưởng thành về mặt hình thái và chức năng của tế bào dạng cây (dendritic cell), một trong những loại tế bào quan trọng nhất trong việc trình diện kháng nguyên (Kim GY et al. 2006).
Nhộng trùng thảo không chỉ là dược liệu quý giá mà còn được sử dụng trong việc pha chế rượu và trà. Hơn nữa, thức ăn có thêm nhộng trùng thảo còn làm tăng mức độ ngon miệng và có tác dụng làm tăng cường sức khỏe cho cơ thể.
Do các giá trị nói trên, việc nuôi cấy nhân tạo nhộng trùng thảo đã được mở rộng tại Trung Quốc và nhiều nước khác. Có thể dùng phương pháp lên men chìm (submerged fermentation) trong các nồi lên men (fermentor) hay lên men chìm (solid fermentation) trên môi trường đặc (cơm hay nhộng tằm) trong các chai thủy tinh miệng rộng hay trong các bao mang mỏng (PP). Sau khi thu hoạch quả thể hay sinh khối ta đem sấy khô và dùng làm thực phẩm trực tiếp hay phối hợp với các công ty dược phẩm để chế biến thành các viên nén hay viên con nhộng.
Nguyễn Lân Dũng – Kiến thức ngày nay – Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2007

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *