“Than sạch” năng lượng cho tương lai

Than là nhiên liệu sống còn đối với đa số quốc gia trên thế giới.
Đốt than không làm tăng thêm mức carbon dioxit (CO2) trên toàn cầu – một thách thức lớn về công nghệ – đang bước đầu được giải quyết. Công nghệ “than sạch” nhiều triển vọng nhất là: sử dụng than để sản xuất hydro từ nước, rồi chôn lượng CO2 sinh ra và đốt hydro để phát điện.
Thách thức lớn nhất là giảm giá thành để công nghệ “than sạch” cạnh tranh với năng lượng hạt nhân trên cơ sở “hầu như không phát thải” (near-zero emissions).
Than và “than sạch”
Than đã và đang là nguồn nhiên liệu cực kỳ quan trọng của loài người; trong tương lại vẫn vậy. Than cung cấp khoảng 23% nhu cầu năng lượng nói chung và 39% điện năng nói riêng. Khoảng 70% sản lượng thép trên thế giới phụ thuộc vào nguyên liệu than. Than cũng là nhiên liệu hóa thạch có trữ lượng dồi dào nhất và phân bố rộng rãi nhất trên trái đất. Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) dự tính đến năm 2020 lượng than được sử dụng sẽ tăng 43% so với năm 2000.
Tuy nhiên, việc đốt than đã thải vào không khí khoảng 9 tỷ tấn CO2 mỗi năm; khoảng 70% lượng này là do phát điện. Một nghiên cứu ước tính việc phát điện chiếm 1/3 tổng lượng hơn 25 tỷ tấn CO2 đã sinh ra trên thế giới.
Công nghệ “than sạch” mới đang giải quyết vấn đề này để nguồn tài nguyên than khổng lồ trên thế giới được các thế hệ tương lại sử dụng mà không làm nóng trái đất. Còn nhiều thách thức trong việc thương mại hóa để duy trì tính cạnh tranh về kinh tế của việc sử dụng than khi phải chi phí cho mục tiêu “không phát thải” (zeroemissions). Nhiều nhà máy điện chạy than đã gần hết thời hạn sử dụng, việc thay thế chúng tạo nhiều cơ hội để điện “sạch hơn:.
Quản lý chất thải do đốt than
Việc đốt than làm tăng lượng chất cần phải được kiểm soát hoặc ít nhất là phải được định lượng. Công nghệ “than sạch” đã mở ra lời giải cho sự lo ngại về môi trường cuối thế kỷ XX. Tuy nhiên trên thực tế, từ nhiều năm nay một số phương pháp đã được ứng dụng, như mô tả tóm tắt dưới đây:
Làm sạch than bằng cách “rửa” là một thao tác tiêu chuẩn ở nhiều nước phát triển. Thao tác này làm giảm lượng tro bụi và CO2 khi đốt than.
Thiết bị kết tủa tĩnh điện (electrostatic precipitators) và bộ màng lọc (fabric filters) có thể loại bỏ 99% lượng tro bụi bay ra từ ống thoát khí – các công nghệ này đang được sử dụng rộng rãi.
Thiết bị khử khí sulfur làm giảm tới 97% lượng khí CO2 thoát ra, con số này phụ thuộc vào mức lưu huỳnh trong than và quy mô giảm. Công nghệ này đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước phát triển.
Thiết bị đốt Nox thấp (Low-Nox burner) cho phép các nhà máy nhiệt điện sử dụng than giảm 40% lượng các loại oxid nitrate (Nox). Kết hợp với kỹ thuật tái đốt NOx (re-burning techniques) có thể giảm 70% và giảm bằng chất xúc tác có chọn lọc có thể loại trừ được 90% lượng khí NOx sinh ra.
Hiệu suất của các nhà máy tăng lên – hiện nay hiệu suất đạt tới 45%, sắp tới có khả năng là 50% – có nghĩa là các nhà máy nhiệt điện mới sẽ sinh ra khí thải trên mỗi kWh điện ít hơn so với những nhà máy cũ.
Các công nghệ mới như IGCC (Integrated Gasification Combined Cycle – chu trình phối hợp khí hóa tích hợp) và PFBC (Pressurised Fluidised Bed Combustion – đốt tầng khí nén hóa lỏng) cho phép tăng hiệu suất nhiệt lên 50%.
Than siêu sạch (ultra-clean coal) sản phẩm của các công nghệ chế biến mới làm giảm lượng tro xuống dưới 0,25% và lượng lưu huỳnh xuống mức rất thấp; tức là than được nghiền thành bột mịn có thể cung cấp trực tiếp cho các tuabin khí với chu trình phối hợp và cháy ở hiệu suất nhiệt cao.
Phương pháp khí hóa, bao gồm khí hóa ngầm tại chỗ, sử dụng hơi nước và oxy để biến than thành oxid carbon (CO) và hydro.
Thu hồi và chôn cất CO2 hóa lỏng dưới các tầng đất sâu.
Chất thải sinh ra có thể được sử dụng như nguyên liệu. Năm 1999, các nước Liên minh châu u (EU) đã sử dụng một nửa lượng tro bay lên và tro lắng xuống từ đốt than để sản xuất vật liệu (tro bay lên có thể dùng sản xuất ximăng) và 87% thạch cao từ việc khử lưu huỳnh khi đốt than tại các nhà máy nhiệt điện.
Tính kinh tế nghiên cứu và phát triển
Theo Viện than thế giới (World Coal Institute) thì chi phí thu hồi và cất giữ CO2 còn cao (150-220 USD/tấn cacbon, 3,5-5,5 US cent/kWh điện tương ứng với đốt than ở hiệu suất nhiệt 35%). Nhưng nhiều công trình nghiên cứu đang được tiến hành nhằm giảm chi phí – yếu tố kinh tế sống còn của công nghệ “than sạch”. Bộ năng lượng Hoa Kỳ đang tài trợ cho việc nghiên cứu và phát triển với mục tiêu đến năm 2008 sẽ giảm chi phí thu hồi carbon xuống dưới mức 10 USD/tấn (tương đương 0,25 US cent/kWh) và đến năm 2012 sẽ giảm chi phí thu giữ carbon chỉ còn bằng 10% chi phí phát điện.
Mới đây, Bộ năng lượng Hoa Kỳ đã công bố Dự án phát điện tương lai (FutureGen Project) trị giá 1,3 tỷ USD để thiết kế, xây dựng và vận hành một nhà máy phát điện và sản xuất hydro sử dụng nhiên liệu than gần như không phát thải. FutureGen dự kiến sẽ được khởi công xây dựng vào năm 2009 và vận hành vào năm 2012; với thiết kế có tính khả thi về kỹ thuật và kinh tế. Nhiều nước phát triển như Đan Mạch, Na Uy, Australia,… cũng đang theo đuổi những dự án phát triển công nghệ “than sạch”.
Xu thế hiện nay
Lĩnh vực công nghệ than sạch đang phát triển rất nhanh theo hướng khí hóa than ở giai đoạn thứ hai: tạo ra dòng khí CO2 được cô đặc và nén, tiếp đó tách ly và chôn dưới đất. Công nghệ này có thể tạo ra khả năng đạt tới “không phát thải” – thực tế là chất gây ô nhiễm cũng như CO2 sinh ra do đốt than sẽ cực kỳ thấp. Việc thực hiện có cải tiến những hiệu quả sẽ giúp “than sạch” cùng với khí thiên nhiên và năng lượng có thể tái sinh (mặt trời, gió) cắt giảm đáng kể việc sinh ra khí gây hiệu ứng nhà kính, đáp ứng mục tiêu gìn giữ môi trường cho các thế hệ tương lai.
Bộ năng lượng Hoa Kỳ đã xem công nghệ than “không phát thải” là một yếu tố cốt lõi của việc cung cấp năng lượng cho một tương lai đang chịu sức ép của vấn đề carbon. Cơ quan này đang thực hiện một chương trình đầy tham vọng nhằm nghiên cứu phát triển và đưa ra thiết kế các nhà máy nhiệt điện dùng than thông thường với giá điện năng chỉ tăng 10%. Chính phủ Australia cũng đã quy hoạch các địa điểm cất giữ CO2 ở gần các nguồn sinh ra CO2 chính; nhưng các nhà máy cần phải được sự chấp thuận của dân chúng và chứng tỏ rằng việc cất giữ là lâu dài. Tại nhiều nước khác, công nghệ than sạch “không phát thải” cũng được coi là có nhiều tiềm năng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng đồng thời tránh được nguy cơ do khí gây hiệu ứng nhà kính đối với môi trường.
Đinh Ngọc Quang – Kiến thức ngày nay – Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2007

Loại nấm ăn kìm hãm tế bào ung thư

Bên cạnh các loài nấm trồng có tác dụng hỗ trợ việc điều trị ung thư như Agaricus blazei, Coriolus versicolor, Ganoderma lucidum, gần đây Bảo tàng giống chuẩn vin sinh vật (VTCC) thuộc Trung tâm công nghệ sinh học (Đại học Quốc gia Hà Nội) lại có thêm một chủng nấm ăn đã được không ít nghiên cứu trên thế giới xác định là có nhiều tác dụng trong y học, nhất là khả năng kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư. Đó là nấm nhộng trung thảo (Cordyceps militaris (L. ex Fr) Link). Trung Quốc gọi là dõng trùng thảo (dõng là con nhộng tằm). Nhộng trùng thảo là loài nấm cùng chi với đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis (Berk) Sacc.) – một loài nấm quý, rất đắt tiền và cũng rất khó phân lập.
Nhộn trùng thảo được Xí nghiệp dược phẩm tỉnh Cát lam (Trung Quốc) phân lập từ năm 1986, năm 1990 đã nuôi cấy thành công trong nồi lên men. Năm 1994 đã đưa vào sản xuất lớn trên nhộng tằm (Bombyx mori) và trên nhiều loại ấu trùng của các côn trùng khác nhau. Sau khi ăn hết chất dinh dưỡng bên trong các sâu nói trên, loài nấm này sẽ mọc ra một quả thể (còn gọi là đệm nấm – stroma) gần giống như đông trùng hạ thảo và đâm lên khỏi mặt đất (vào mùa hè).
Các nhà khoa học chú ý nhiều đến dược lý và năng lữ chữa bệnh của nhộng trùng thảo. Hàm lượng của mấy hoạt chất quan trọng so với đông trùng hạ thảo không thua kém, thậm chí còn cao hơn.
Tháng 11.1990 và tháng 4.1991, Trạm vệ sinh phòng dịch Thẩm Dương (Trung Quốc) đã công bố kết quả kiểm nghiệm về giá trị an toàn thực phẩm của nhộng trùng thảo và xác nhận không có độc tính, có thể gọi là thực phẩm an toàn.
Rất nhiều nghiên cứu sâu sắc về dược lý của nhộng trùng thảo đã được công bố. Sau đây là một số thông tin đáng chú ý:
Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng nhộng trùng thảo được sử dụng có hiệu quả để chữa trị nhiều bệnh, như rối loạn chức năng của gan (Nan J.X et al. 2001), ung thư (Yoo H.S et al. 2004), sự lão hóa, các chứng viêm tấy (Won S.Y and Park E.H. 2005). Đặc biệt nó được đánh giá có tác dụng tốt đối với thận và phổi theo y học cổ truyền Trung Quốc. Gần đây rất nhiều tính chất dược lý của loài nấm này đã được ông bố: Dịch chiết xuất nấm bằng cồn có thể kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn lao Mycobaerium tuberculosis H37Rv, đẩy nhanh quá trình chuyển hóa các acid nucleic và protein tại tụy; có tác dụng đối với kích tố sinh dục nam; tác động đến hệ tuần hoàn như chống lại sự thiếu oxy, tăng cường sự lưu thông máu, giảm hàm lượng cholesterol trong huyết thanh…; có tác dụng chống viêm nhiễm; có tác dụng chống ung thư: kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư vú, tế bào ung thư phổi…; kìm hãm sự phát triển của một số virus và vi khuẩn.
Một trong những giá trị chính của nhộng trùng thảo là kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư. Dịch chiết bằng nước ấm đối với nấm này đã có thể kìm hãm sự phát triển của dòng tế bào ung thư máu ở người bằng cách gây ra hiện tượng tự chết (apoptosis) của các tế bào này thông qua sự hoạt hóa enzym caspase-3 (Lee H.et al., 2006, Park C. et al., 2005). Dịch chiết từ nhộng trùng thảo đã thể hiện là có tiềm năng to lớn trong việc chữa trị ung thư máu (laukemia). Các nhà khoa học cũng đã sử dụng dịch chiết xuất từ nhộng trùng thảo để thử nghiệm trên các dòng tế bào bình thường và các dòng tế bào ung thư. Kết quả cho thấy hai dòng tế bào K562 (tế bào ung thư máu-leukemia) và Du145 (tế bào ung thư tuyến tiền liệt-prostate carcinoma) bị ức chế mạnh bởi dịch chiết xuất bằng butanol từ nhộng trùng thảo (Kim et al. 2006). Yoo H. S. và cộng sự đã chứng minh rằng nhộng trùng thảo có tác dụng chống lại sự tạo thành các mạch máu mới (angiogenesis) bằng cách giảm sự biểu hiện của bFGF, một trong những nhân tố kích thích quá trình này. Do có vai trò kìm hãm trong quá tình angiogenesis mà nhộng trùng thảo có thể ngăn chặn được quá trình di căn và sự phát triển của ung thư.
Ngoài ra nhộng trùng thảo còn có tác dụng kìm hãm sự oxy hóa của lipit, lipoprotein và lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL). Chất chống oxy hóa có trong nhộng trùng thảo có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa một số bệnh gây ra bởi một loạt phản ứng oxy hóa dẫn đến việc phá hoại AND, protein và các phân tử lớn khác. Những hiện tượng trên dẫn đến sự thoái hóa hoặc làm tăng mức độ của một số bệnh như: lão hóa, hen và ung thư (Klaunig J.E and Kamandulis L.M., 2004; Balaban R.S. et al., 2005). Một số chất chống oxy hóa đã được tổng hợp nhân tạo như butylated hydroxyanisole (BHA) (Thompson D. and Moldeus P. 1998) hoặc như butylated hydroxyluene (BHT) (Witschi H.P. 1986; Thompson D. and Moldeus P. 1988). Do đó việc sử dụng nhộng trùng thảo trong việc chống oxy hóa, đề kháng lại với bệnh tật là vô cùng có giá trị trong y học. Dịch chiết xuất bằng nước từ nhộng trùng thảo làm kích thích sự trưởng thành về mặt hình thái và chức năng của tế bào dạng cây (dendritic cell), một trong những loại tế bào quan trọng nhất trong việc trình diện kháng nguyên (Kim GY et al. 2006).
Nhộng trùng thảo không chỉ là dược liệu quý giá mà còn được sử dụng trong việc pha chế rượu và trà. Hơn nữa, thức ăn có thêm nhộng trùng thảo còn làm tăng mức độ ngon miệng và có tác dụng làm tăng cường sức khỏe cho cơ thể.
Do các giá trị nói trên, việc nuôi cấy nhân tạo nhộng trùng thảo đã được mở rộng tại Trung Quốc và nhiều nước khác. Có thể dùng phương pháp lên men chìm (submerged fermentation) trong các nồi lên men (fermentor) hay lên men chìm (solid fermentation) trên môi trường đặc (cơm hay nhộng tằm) trong các chai thủy tinh miệng rộng hay trong các bao mang mỏng (PP). Sau khi thu hoạch quả thể hay sinh khối ta đem sấy khô và dùng làm thực phẩm trực tiếp hay phối hợp với các công ty dược phẩm để chế biến thành các viên nén hay viên con nhộng.
Nguyễn Lân Dũng – Kiến thức ngày nay – Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2007

Bài Dạ Cổ đêm khuya

Mấy ngày nay trời bắt đầu vào mùa mưa. Những cơn mưa rả rích gõ nhịp trên mái nhà thôi thúc nỗi nhớ quê da diết. Hai chúng tôi đến Bạc Liêu trong một chiều mưa tầm tã. Nhưng hạt mưa như quất vào mặt, vào mắt, làm dạt cả những chiếc xe đang lầm lũi chạy trên đường. Chúng tôi như hai kẻ lữ hành phiêu bạt nơi đất khách, mang mang nỗi nhớ quê nhà. Cơn mưa ngày càng nặng hạt, nửa như thách thức, nửa như níu kéo lữ khách dừng chân một đêm để thưởng thức hương vị ngày xưa còn vang vọng…
Lang thang trên đường thị xã, chúng tôi quyết định đến trọ tại khách sạn Công Tử Bạc Liêu. Trời Bạc Liêu và khuya sẽ lạnh, cơn mưa cũng ngừng thôi thúc lòng kẻ lãng du. Tuy nhiên, chính nơi này khơi gợi lại trong tôi một niềm hoài vọng cố hương, về ngôi nhà vị công tử nổi tiếng một thời. Trời Bạc Liêu mù mịt mưa, đêm Bạc Liêu đèn vàng heo hút. Không khí lãng đãng vắng lặng làm se lạnh thêm bao nỗi niềm hoài mong. Chúng tôi dạo bước trên từng con phố nhỏ để tận hưởng không khí của một tỉnh lỵ miền Tây về đêm. Huyền diệu làm sao, mà cũng mơ hồ làm sao! Lâu lắm rồi chúng tôi không được thấy hình ảnh các chị, các mẹ với đòn gánh trên vai và tiếng rao vang vọng trong đêm vắng. Cũng lâu lắm rồi chúng tôi không thấy các ghe chài cặp bến tá túc qua đêm dưới dạ cầu với ngọn đèn dầu leo lét… Thì ra, tất cả đều có ở chốn này và Bạc Liêu ngày không khác lắm Bạc Liêu 10 năm trước. Cũng con đường này, cũng những gánh hàng rong, những đôi vai còng tảo tần hôm sớm và những ghe hàng neo đậu hững hờ dưới dạ cầu. Chợt chạnh lòng khi nhận ra Bạc Liêu còn nghèo quá! Tốc độ phát triển kinh tế vẫn chưa được là bao, thậm chí với Cà Mau – “người anh em song sinh với mình” – Bạc Liêu cũng còn khá khiêm nhường. Những dãy phố nhà cũ kỹ vẫn chưa thay mới, những con đường được tu sửa nhưng vẫn chưa hoàn thiện… Bước đường phấn đấu lên thành phố của tỉnh lỵ vùng xa này, xem ra còn lắm gian truân.
“Đêm Gành Hào nghe Dạ cổ Hoài Lang”, là bài hát mà chúng tôi nghe văng vẳng từ chiếc thuyền neo ở bến sông. Chúng tôi bắt chuyện và được chủ ghe mời xuống uống trà. Trời đêm lạnh. Đường đêm vắng. Và cũng đã ngớt tiếng rao đêm. Ly trà nóng như lời ủi an lòng lữ khách và cả lòng người chủ ghe nghèo khó. Anh là Thạch Nôm, người Khmer, không có đất canh tác nên sống kiếp thương hồ lang bạt qua các vùng sông nước Cửu Long. Trước đây, anh và vợ cùng buôn bán hàng rong trên sông. Gần đây được người bạn chỉ cách đánh siệp, nên cuộc sống đỡ vất vả hơn. Sáng sớm anh ra biển siệp tôm khi con nước tràn bãi cát, còn chị thì vẫn buôn bán trên sông. Mỗi ngày anh chị kiếm được khoảng trăm ngàn, vẫn eo hẹp trong thời buổi giá cả thị trường tăng chóng mặt. “May mà chúng tôi chưa có con, nếu có không biết nuôi chúng ra sao, học hành thế nào!” – anh mủi lòng tâm sự.
Đã quá nửa đêm, chúng tôi giã từ. Anh hẹn chúng tôi sáng ra biển, xem cách đánh siệp. Chúng tôi gật đầu. Sự lưu luyện vẫn còn hiện rõ trên ánh mắt của người dân chài. Chúng tôi bước đi, bỏ lại sau lưng ghe chài và những kiếp người bé mọn, nổi trôi theo dòng nước. Bài Dạ Cổ đêm khuya như còn vọng theo bước chân chúng tôi. Quay về khách sạn, lòng tôi đọng lại nỗi niềm bâng khuâng khó tả, vừa mơ hồ vừa thương cảm cho số phận con người nhỏ nhoi…
Buổi sáng Bạc Liêu bình yên. Trời không mưa, nắng trong và mát dịu. Tôi dậy rất sớm để đón nhận không khí đầu tiên của ngày. 7 giờ sáng, đường phố nhiều xe và dòng người tấp nập. Cảm giác vắng lặng, lẻ loi tan biến. Nhưng hình ảnh Bạc Liêu khó nhọc vẫn còn nguyên đâu đó trên những đôi vai trĩu nặng gánh hàng rong và những ngôi chợ tự phát nhỏ xíu ở gần các khu dân cư.
Chúng tôi chạy xe từ khách sạn Công Tử Bạc Liêu ra biển khoảng 8 cây số, cảm nhận cái mát lạnh của gió biển thổi dạt dào và êm dịu. Nước biển Bạc Liêu không trong xanh như biển Vũng Tàu, Nha Trang mà đục ngầu một màu phù sa bồi đắp. Ở ngoài biển, người ta xây dựng khu nhà nghỉ mát thật lộng lẫy và hoành tráng. Chiếc cầu nối đất liền ra đến nhà mát có chiều dài hơn trăm mét và trông rất nên thơ. Còn có một nhà hàng phục vụ đặc sản biển Bạc Liêu như cua, tôm, vọp, ghẹ, nghêu, sò… Nếu chỉ mới nhìn ngôi nhà mát và nhà hàng thủy sản mà chưa có một đêm lang thang trên phố, chắc bạn sẽ nghĩ rằng Bạc Liêu giàu có lắm. Tuy nhiên, đó cũng là tín hiệu đáng mừng cho một tỉnh lỵ vùng xa, vì ngày nay du lịch Bạc Liêu được đầu tư với doanh thu cũng khá cao. Một chút an ủi lòng kẻ lãng du…
Trên vành đai biển Bạc Liêu, anh Thạch Nôm vẫn ngồi cùng mấy người bạn với bộ siệp để đợi con nước lớn. Gió biển mang theo hương phù sa thấm đẫm lòng người dân nơi đây chất hào sảng đặc trưng không nơi nào có được. Siệp là công cụ đánh bắt tôm cá trên bãi biển, giống như người ta đẩy te. Có điều, đẩy te phải dùng ghe thuyền có động cơ, còn đánh siệp thì chỉ cần một người. Cuộc mưu sinh thật vất vả với những người gắn bó đời mình với vận may rủi của biển khơi! May mắn ngày trời yên gió lặng thì kiếm được gần trăm ngàn, nhưng những ngày biển động, không đánh siệp được là xem như… đói!
Rời Bạc Liêu, chúng tôi như còn nghe vang vọng đâu đây thanh âm bài Dạ Cổ Hoài Lang và hình cảnh về người dân nghèo khó…
Phan Trường Sơn – Kiến thức ngày nay – Năm 2008

Nhung và Lụa

( Velvet and Silk)
Kênh phát: VTV1
Thời lượng: 26 tập X 45 phút
Nước sản xuất: Cộng hòa liên bang Đức
Thời gian phát sóng:8,9/2001 ( thứ 2,3,5)
Lấy bối cảnh là những hoạt động đời thường diễn ra trên thương trường, cùng khó khăn và xung đột diễn ra trong kinh doanh, “ Nhung và Lụa” minh họa cuộc đời của nhiều nhân vật với những tham vọng, thành công và cả sự thất bại của họ. Florian Unger là nhà tư vấn đề quản lý rấy thành công ở Frankfurk. Anh được mời giám sát việc giải thể, Công ty dệt Althofer và Son tại Augsburg. Ở đây,anh bị lôi cuốn bởi phương thức kinh doanh mang đậm truyền thống Đức và cả sự say mê nghề nghiệp của cá nhà thiết kế trẻ – trong đó có Lena Czeerni – một kỹ sư mới ra trường… Khi phát hiện ông chủ ngân hàng – tiến sĩ Lausitz mời anh tham gia công việc chỉ để kiếm khoản lợi nhuận bèo bọt, anh quyết định đứng về phía công ty Dệt và bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Thế là từ một công việc rất đỗi bình thường nay lại trở thành sứ mệnh mới trong cuộc đời nhà tư vấn trẻ tuổi. Mọi việc diễn ra không mấy thuận lợi khi công nhân nhà máy nghi ngờ thêm của anh trong việc tìm cách trì hoãn thanh toán cho các chủ nợ… Liệu nhà tư vấn trẻ có thực hiện những ý định của mình hay không? “ Nhung và lụa” là bộ phim đề cập tới vấn đề “ nóng” trên thương trường ở các nước đã và đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hy vọng sẽ mang đến nhiều điều bổ ích cho các nhà quản lý Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Tiếng gọi nơi hoang dã ( Call of thi Wild)
Kênh phát: VTV3
Thời gian phát sóng: 19/8/2001
Thời lượng: 26 tập x 60 phút
Nước sản xuất: Mỹ
Bộ phim được xây dựng trên tác phẩm cùng tên của nhà văn nổi tiếng Jack London. “ Tiếng gọi nơi hoang dã” là câu chuyện hấp dẫn đầy kịch tính về những cuộc phiêu lưu mạo hiểm trong thời kỳ sôi động săn tìm vàng ở miền đất Alasca giá lạnh. Mọi chuyện bắt đầy với chú cho Eskimoto to lớn, thông minh – có tên là Buck. Bị bắt cóc rồi ném vào đoàn xe trượt tuyết bằng chó kéo lên miền Bắc cực hoang dã, Buck đã tiếp xúc với đủ hạng người tàn bạo, độc ác và chịu đựng sự khắc nghiệt của thời tiết và thiếu thốn… Ở đây, Buck đã gặp chú besMiles và gắn bó cuộc đời mình với con người trẻ tuổi dũng cảm, đầy bản lĩnh và có tình thương yêu sâu sắc với loài vật. Miles là hình tượng của lớp trẻ can đảm, dám đấu tranh bảo vệ chân lý, cho niềm tin của chính nghĩa.
Với cách miêu tả chân thực cuộc sống của chú bé Miles và chó Buck trong cuộc chiến đấu gian khổ nơi vùng đất Alasca khắc nghiệt, “ tiếng gọi nơi hoang dã” được đánh giá là tác phẩm mang tính khái quát rộng lớn và mãi mãi trở thành tài sản vô giá với mọi gia đình trên thế giới.
H.C – Thế giới điện ảnh – Hội điện ảnh Việt Nam – Số 1508/VP- cấp ngày 21- 4 – 1977