Nhớ mùi đuông nướng

Năm 1950, giặc Pháp chiếm gần trọn tỉnh Bến Tre, chỉ còn huyện Thạnh Phú là chưa mò đến. Để tránh giặc dữ, tôi dắt díu vợ con tản cư xuống tận rừng chà là, thuộc miền duyên hải của huyện này. Bấy giờ trong túi chúng tôi chỉ còn vỏn vẹn có một ít đồng bạc “Cụ Hồ” để phòng khi trái gió trở trời. Ban đêm chúng tôi bắt ếch nhái, ba khía; ban ngày mò nghêu, câu cua biển v.v. để sống. Bắt ít ăn ít, bắt nhiều thì đem bán bớt, cũng đủ sống qua ngày. Tuy nhiên, món gì ăn mãi cũng chán, tôi bèn nảy sáng kiến ăn đuông chà là, để thay đổi khẩu vị.
Chà là là loài thực vật trông giống cây cau. Thân to, cỡ bắp chuối, cao chừng năm mét, có rất nhiều gai nhọn, nếu không cẩn thận, ắt bị nó đâm nát bàn chân. Ngày xưa dân nghèo chúng tôi hay đốn về làm kèo, cột cất nhà. Nhưng bản thân chà là sống cũng èo uột, cứ 10 cây thì đã có 3 cây bị đuông khoét cổ hũ loang lổ, đùn ra ngoài đầy chất thải dơ dáy.. Nhờ đó mà chẳng khác nào chúng tự tố cáo: “Lạy cha! Con trốn ở nơi này!” Thế là tôi cứ hạ ngay những cây bị thương ấy. Chắc ăn như bắp: Cây nhỏ lối ba bốn con, cây to thì hàng chục!
Đuông chà là đúng ra là loài côn trùng dơ đáng tởm, nhưng được cái là “siêu ngon!” Không thua bất cứ món ngon nào của miền thôn dã. Tuy có ngon thật, mà ăn rất chóng ngán: Ai thích lắm cũng chỉ dăm bảy gắp là phải hạ đũa ngay. Còn người hảo lắm, ngoài mươi con cũng… ê mồm! Nhưng tội một nỗi, nay ngán, mai lại thèm!
Đuông tuy cùng một họ, nhưng có hai dòng: dòng ở rừng ăn cổ hũ chà là; dòng ở vườn ăn cổ hũ dừa. Đuông dừa giống hệt đuông chà là về hình dáng và mùi vị, nhưng lại khác nhau về màu sắc và số lượng. Ví dụ: Đuông dừa có màu trắng sữa, to bằng ngón tay cái và rất hiếm; trái lại, đuông chà là to cỡ ngón trỏ, màu vàng vàng… lại nhiều hơn gấp bội. Vì sao có hiện tượng hơn kém ấy?
Không có chi lạ, đều do ảnh hưởng của môi trường sinh thái khác nhay mà ra. Về số lượng càng dễ hiểu: Chà là ở rừng hoang, không ai dòm ngó nên đuông cứ tự do nảy nở; còn đuông vườn luôn bị chủ dừa chăm nom, nên hiếm là phải.
Và cũng do đuông dừa hiếm hoi như thế mà các chị, bọn trẻ con ở vườn, cũng như vợ con tôi, ít khi có nhu cầu như phía đàn ông, nên chẳng mấy người “biết mặt” đến chúng.
Vì vậy lần đầu, tôi ngồi chẻ cổ hũ chà là, rớt xuống đất toàn những con đầu đen thui, mình vàng nghín như con sâu, bò lổm ngổm, làm thằng nhóc 8 tuổi của tôi xanh mặt. Nó chạy la toáng lên: “Giòi! Giòi! Ghê quá!”. Bà xã tôi cũng dang ra và trách: “Ông hết chuyện ăn rồi sao! Ăn giống gì thấy mắc ói vậy?” Tôi cười: – Đừng có chê! Chín rồi, côn ăn vài con sẽ biết…
Thật vậy, sau này gặp bữa nào ít đuông vợ con tôi còn bắt tôi phải kiếm thêm cho đủ ăn. Rõ ràng, hễ ai gần mực cũng phải dính đen mà!
Nhưng muốn có một món ăn tinh sạch và đậm đà, trước tiên, đuông phải được ngâm vào nước chừng vài mươi phút ( cho nó thải ra ngoài các chất dơ), sau đó sẽ vớt ra. Ta có thể chế biến được bốn món ăn đặc biệt như sau:
Món thứ nhất, Cháo đuông: Tuy theo thực khẩu, bắt nồi cháo trắng lên bếp đun. Trong khi chờ cháo chín, ta đổ dầu, tỏi vô chảo chiên đuông phi để sẵn, đến lúc cháo nhừ, ta trút hết chảo đuông vào nồi và trộn đều: đoạn nhắc xuống nêm thêm gia vi (nước mắm, tiêu, hành ) là xong.
Món thứ hai, Gỏi đuông: Đuông luộc bằng nước dừa nạo; chín vớt xuống bỏ đầu, rồi cuốn với bánh tráng, kèm theo rau thơm, cà chua xắt mỏng, hẹ – món này còn gọi là gỏi cuốn. Khi ăn, chấm với tương đậu nành hoặc nước mắm chua cay… ngon tuyệt!
Món thứ ba, Đuông lăn bột: Đuông bỏ vào cái thau có bột hòa sền sệt với nước. Đoạn cho dầu, tỏi vào chảo đun sôi, rồi bỏ đuông vô chiên và lấy vá trở đều, một lát, đuông sẽ phù lên vàng rộm và tỏa mùi thơm nồng mũi. Đuông lăn bột ăn bằng cách xé đôi nó ra cho vào tô trộn cùng các hỗn hợp: giá, dưa leo bằm nhỏ từng sợi, rau thơm xắt nhuyễn, cuối cùng bỏ bún lên trộn đều… Lúc ăn chỉ cần chan vào tô nước mắm chua cay nữa là xong. Nên nhớ, móm này ăn như chả giò, nếu nước mắm ít và mặm sẽ mất ngon. Tuy nhiên, nếu lạt, không vừa miệng có thể thêm chút xíu nước mắm nữa cũng được.
Món thứ tư, Đuông nướng: Mặc dù ba món trên không chê vào đâu được, nhưng với tôi, móm đuông nướng này mới thật là “nhứt xứ”!
Việc nướng đuông không phí công lắm, chỉ cần chặt một thanh tre cỡ ngón tay út, đem chẻ ra cặp đầu đuông lại, rồi hơ lên lửa than, lật qua, lật lại chừng 5-6 giây là mỡ chảy xèo xèo, trông vàng rộm, dù đứng dưới gió, cách hơn chục mét, ai cũng có thể đáng hơi được! Món đuông này dùng để ăn con, nhưng nếu có đế nhâm nhi thì… trời đất cũng phải… lăn cù!
Đến nay dù tuổi đã qua cao, mà mỗi khi ngồi nhớ đến món “đuông nướng” lòng tôi vẫn còn háo hức như thuở nào! Nhưng biết tìm đâu ra đôi con để ăn! Vì chà là đã bị khai hoang; dừa đã bị thuốc trừ rầy. Nên tôi đành ghi lại vai dòng hồi ký này cho đỡ nhớ!
Lê Thanh Hoài – Kiến thức ngày nay – Năm 2006

Westlife những thông tin mới nhất

Westlife-boysband rất thành công trong thời gian gần đây đang trải qua những thay đổi to lớn: các thành viên lần lượt lập gia đình, một điều tối kỵ đối với một boysband.
Mọi việc dường như vẫn ổn cho tới khi Nicky Byrne, chàng trai hấp dẫn nhất trong nhóm đã kết hôn vào ngày 9/8 vừa qua tại một lâu đài trên đất Pháp thì những fan của Westlife đã tỏ ra lo lắng thực sự. Những âu lo đó hoàn toàn có cơ sở khi nhóm nhạc đồng hương cũng rất nổi tiếng Boyzone cũng tan rã chỉ vì… những lễ cưới của các thành viên trong nhóm.
Tuy nhiên ban nhạc đã xóa tan những mối nghi ngờ này khi họ tuyê bố là sẽ không có chuyện gì xảy ra cho dù những bài hát gần đây nhất của họ dường như không được Westlife toàn tâm toàn ý cho lắm. Mark, một thành viên trong nhóm đã cười phá lên khi được hỏi về thời điểm tan của Westlife: “Ai cũng có những khoảnh khắc tồi tệ trong cuộc sống của mình. Hãy thử nhìn Kylie Minogue xem, 10 năm trước ai cũng tưởng cô ấy đã xuống đáy của sự nghiệp nhưng giờ đây cô ấy đã có một sự trở lại huy hoàng. Chúng tôi sẽ còn làm việc với nhau ít nhất là 2 năm nữa sẽ cho ra đời không dưới 3 album nữa”.
Còn về chuyện lễ cưới của mình, anh chàng Nicky tâm sự: “Tôi tin rằng việc này sẽ không ảnh hưởng gì đến sự nghiệp chung của Westlife. Sở dĩ chúng tôi tổ chức lễ cưới ở Pháp đơn giản chỉ vì Georgina và tôi đều yêu mến đất nước này, chúng tôi đã có mặt tại đay vào dịp Worldcup 5 năm về trước và đã bị khuất phục hoàn toàn trước vẻ đẹp của nó”. Cũng phải nói thêm rằng, Georgina, ý trung nhân của Nicky không chỉ là một cô gái tầm thường, cô là con gái của đương Thủ tướng Ailen Bertie Ahern, hai người quen nhau trong một buổi biểu diễn của Westlife tại ngoại ô thành phố Belfast và nhanh chóng hút nhau như hai cực nam châm trái dấu.
Chúng ta cùng trò chuyện với 5 chàng trai quyến rũ này để biết thêm những chi tiết thú vị xung quanh những xáo trộn gần đây trong cuộc sống của họ:
Gần đây các anh gặp khá nhiều rắc rối, hết chuyện Shane bị tai nạn khi ngã từ trên sân khấu xuống lại tới chuyện Bryan bị cảnh sát hỏi thăm, đây hẳn là một thời kỳ khó khăn với Westlife?
Cũng không hẳn như thế, đây là những việc bình thường mà bất cứ người nào trong cuộc sống cũng phải gặp đôi ba lần, chỉ lạ là những sự việc đó cứ như thế rủ nhau kéo đến cùng một lúc vậy.
Chắc các fan muốn biết lý do mà Bryan bị cảnh sát thẩm vấn lắm đấy?
Ôi, có gì đâu. Hôm đó quả là Bryan có đi hơi quá tốc độ một chút và có vượt qua một số đèn tín hiệu giao thông (cười), nhưng đó chỉ là việc nhỏ so với việc cậu ấy không hề dừng lại khi cảnh sát giao thông yêu cầu mà cứ thế phóng thẳng xe về khách sạn. Chả là vì cậu ta đang say sưa với một bài hát trên radio mà. Tuy nhiên cuối cùng thì mọi chuyện cũng ổn, các nhân viên cảnh sát tỏ ra rất thông cảm với Bryan.
Câu hỏi này dành cho chú rể mới, Nicky. Một số người lại nhìn thấy anh và Georgina tại điểm đăng ký kết hôn Wicklow vài hôm trước khi diễn ra lễ cưới, anh chị làm gì ở đó? Lại còn người đến trước người đến sau nữa chứ?
Vì lễ thành hôn được tổ chức ở nước ngoài nên chúng tôi buộc phải đăng ký kết hôn trước đó mấy hôm. Chúng tôi không thể tới điểm đăng ký kết hôn cùng một lúc vì điều đó sẽ vi phạm hợp đồng về hình ảnh của tôi và Georgina với tạp chí Hello, những người đã mua những bức ảnh cưới của chúng tôi không bao giờ được xuất hiện cùng nhau ở chỗ đông người cho tới sau khi tổ chức lễ cưới.
Một số thành viên của Westlife hình như đang đầu tư vào bất động sản, việc làm ăn của các anh thuận lợi chứ?
Trời ơi, đừng nhắc lại chuyện này làm gì, đó thực sự không phải là sở trường của chúng tôi. Kian đầu tư hơn 600,000 đô la vào một ngôi biệt thự gần Dublin những mãi mà chẳng có ma nào thèm để ý tới nên vừa phải hạ giá xuống 500,000 đô la. Bryan thì còn thê thảm hơn, bỏ ra đúng 1 triệu đô la để mua một ngôi nhà 5 buồng nhưng cả năm nay cũng chẳng có ai hỏi nên đành phải bán tống bán tháo, chấp nhận lỗ gần 300,000 đô la đấy.
Thế nhưng các anh có rất nhiều cơ hội để bù lại, Westlife đã có một buổi biểu diễn thành công rực rỡ tại Sligo quê hương của các anh vào những ngày cuối tháng 7 vừa qua, lợi nhuận thu được hẳn phải tương ứng với quy mô hoành tráng của nó?
Hoàn toàn không phải như vậy, để dựng được sân khấu ngoài trời có quy mô lớn như vậy, chúng tôi đã phải mất tới 3 ngày và 170 công nhân, sau đó lại cần tới 2 ngày để tháo dỡ, qua đó các bạn có thể hình dung chi phí cho buổi biểu diễn sẽ lớn như thế nào. Tuy nhiên, chúng tôi tổ chức buổi biểu diễn này không hề vì mục tiêu lợi nhuận, đây chỉ là một hành động nhằm cảm ơn những người hâm mộ ở quê hương đã ủng hộ Westlife từ những ngày chúng tôi còn gặp vô vàn khó khăn.
Quỳnh Quỳnh – Điện Ảnh Kịch Trường – Số 213.15-8-2003

Cuộc chiến trong hậu trường

Vào thời điểm cuộc đua giành chiếc ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc sắp kết thúc về Ngoại trưởng Hàn Quốc Ban Ki-moon, nhóm phóng viên Times of London tung ra phóng sự điều tra (đăng trên số ra ngày 29.9.2006), cho thấy Hàn Quốc đã tiến hành một chiến dịch hậu trường bài bản nhằm đưa Ban Ki-moon lên thay Kofi Anna. Trong thực tế, ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc là sự dàn xếp giữa “ngũ cường” thành viên thường trực và lịch sử từng cho thấy luôn xảy ra sự cạnh tranh quyết liệt trong tiến trình bổ nhiệm Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc…
Tiền đã có thể là tất cả?
Theo Times of London, chiến dịch vận động đưa Ban Ki-moon lên ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc thể hiện ở nhiều hình thức, từ việc Hàn Quốc hứa viện trợ châu Phi hàng triệu đôla đến nhiều thỏa ước thương mại với châu u. Cần nhắc lại, trong số ứng cử viên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc lần này, có Vaira Vike-Freiberga (Tổng thống Latvia, ứng cử viên nữ duy nhất); Ashraf Ghani (cựu Bộ trưởng tài chính Afghanistan); Surakiart Sathirathai (Phó thủ tướng Nội các Thaksin Shinawatra); hoàng tử Zeid Ra’ad Zeid Al-Hussein (đại sứ Jordan tại Liên Hiệp Quốc); Shashi Tharoor (Phó Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đặc trách thông tin công cộng, người Ấn Độ); Jayantha Dhanapala (nguyên Phó Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đặc trách giải trừ quân bị, người Sri Lanka)… Tháng 2.2006, Ban Ki-moon chính thức loan tin tranh cử Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Một tháng sau, Hàn Quốc thông báo họ tăng gấp ba viện trợ cho châu Phi (100 triệu USD) vào trước năm 2008. Seoul cũng đóng góp vài chục ngàn đôla cho Hội nghị thượng đỉnh Liên minh châu Phi 2006 tổ chức tại Gambia vào tháng 7 – vào thời điểm mà Ban Ki-moon tuyên bố năm 2006 là “năm châu Phi” đối với Hàn Quốc. Một trong những đối tượng nhận tài trợ là Tanzania (có chân trong Hội đồng bảo an-UNSC). Tháng 5.2006, Ban Ki-moon kinh lý đến Tanzania với lời hứa viện trợ 18 triệu USD cho chương trình giáo dục cũng như cho dự án cầu đường tại Tây Tanzania (từ 1991-2003, Hàn Quốc viện trợ Tanzania tổng cộng 4,7 triệu USD). Do vậy, Elly Matango (đại sứ Tanzania tại Tokyo và Seoul) phát biểu vào hạ tuần tháng 9.2006 rằng Chính phủ Tanzania quyết định ủng hộ Ban Ki-moon trong cuộc chạy đua vào ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Tháng 9.2006, cùng Tổng thống Roh Moo-hyun, Ngoại trưởng Ban Ki-moon cũng hướng dẫn phái đoàn ngoại giao-doanh nghiệp Hàn Quốc rầm rộ đến Hy Lạp lần đầu tiên kể từ năm 1961. Cần nhớ Hy Lạp hiện giữ ghế chủ tịch UNSC. Ngoài Tanzania, Ghana là quốc gia châu Phi thứ hai được viện trợ đáng kể và Ghana cũng là thành viên UNSC – theo Alykhan Velshi (giám đốc nghiên cứu thuôc Tổ chức bảo vệ Dân chủ) viết trên Front Page Magazine (10.2006)…
Trên Washington Post (3.2.2006), cựu đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, Richard Holbrooke, viết rằng chẳng có ai không được sự đồng ý từ Washington lẫn Bắc Kinh mà có thể lên được ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Phát biểu này cho thấy dù vận động tốn kém thế nào mà không được ủng hộ từ các nước thành viên thường trực UNSC thì cũng có khả năng “xôi hỏng bỏng không”. Trong quyển The United Nations – International Orga-nization and World Politics (trang 125-132), nhóm tác giả Lawrence Ziring, Rob-ert Riggs và Jack Plano đã nêu vài trường hợp cụ thể. Năm 1950, khi nhiệm kỳ thứ nhất của Trygve Lie sắp kết thúc, Liên Xô khăng khăng phủ quyết ứng cử viên Lester Pearson (Canada) và Paul-Henri Spaak (Bỉ) trong khi Mỹ thề bác bỏ bất kỳ ai khác ngoài Trygve Lie. Vấn đề biến thành cuộc khủng hoảng dẫn đến bế tắc khi chẳng ai nhượng bộ ai. Cuối cùng, người ta phải nghĩ đến giải pháp kéo dài thêm ba năm cho nhiệm kỳ Trygve Lie.
Đấu đá trong UNSC
Trong United Nations – The First Fifty Years (trang 153-155), tác giả Stanley Meisler kể thêm rằng, tiến trình chọn người kế nhiệm Dag Hammarskjold năm 1961 thậm chí còn lâm vào tình thế khủng hoảng nghiêm trọng hơn. Không đồng ý bất kỳ ứng cử viên nào, Liên Xô đề xuất mô hình “bộ tam” – tam ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đại diện cho thế giới tư bản, thế giới cộng sản và thế giới thứ ba. Lãnh đạo Liên Xô Nikita Khruschev cho rằng “bài học Hammarskjold” đã quá đủ cho Moscow, khi Hammarskjold tỏ ra không trung lập và thiên vị đối với phe tư bản.
Thế cho nên để công bằng, ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc không chỉ thuộc một người mà phải có ba nhân vật đại diện ba thế giới. Washington tất nhiên bác bỏ và các nước đang phát triển cũng không ủng hộ ý kiến Khruschev mà đòi ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc cho riêng họ. Cuộc khủng hoảng bước sang giai đoạn hai khi Moscow nảy thêm đề xuất mới rằng cho dù ai được bầu làm Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc thì nhân vật đó vẫn phải có nhóm cố vấn đến từ ba thế giới như đã kể ở trên. Washington đồng ý nhưng bế tắc tiếp nối bế tắc khi người ta không thống nhất được số cố vấn cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc (có một đại sứ đề nghị 15 cố vấn). Còn nữa, phần ứng cử viên, hai nhân vật nổi cộm bấy giờ là đại sứ Mongi Slim (Tusinia) và đại sứ Miến Điện U Thant. Tuy nhiên, Liên Xô đánh giá Mongi Slim thân phương Tây; Israel cho rằng ông là đồng minh của những kẻ thù của mình; trong khi Pháp vẫn còn hận Tusinia vụ đụng dộ kinh hoàng tại cảng Bizerte (Tusinia) vào đầu thập niên 1961 khiến Pháp phải “bỏ của chạy lấy người”. Với U Thant, Pháp cũng chẳng thiện cảm bởi ông từng là chủ tịch ủy ban Á-Phi bàn về tiến trình độc lập cho Algeria-thuộc địa Pháp (một nhà ngoại giao Pháp thậm chí dè bỉu rằng U Thant thiếu chiều cao và dốt tiếng Pháp; khi biết chuyện, U Thant xỏ lại khi nói rằng dù sao đi nữa ông cũng còn cao hơn Napoléon và tất nhiên không dốt đặc tiếng Anh như “cái ông vua bên Pháp”).
Năm 1981, UNSC lại bế tắc hơn 6 tuần trong tiến trình bầu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Trung Quốc phủ quyết Kurt Waldheim tranh nhiệm kỳ ba trong khi Mỹ cản trở ứng cử viên Salim A. Salim (Tanzania). Cuối cùng, Waldheim lẫn Salim đều rút lui và Javier Pérez de Cuéllar được đề cử trong vòng bỏ phiếu chính thức đầu tiên từ danh sách 9 ứng cử viên thuộc các nước thế giới thứ ba… Cần nói thêm, trong lịch sử bầu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, yếu tố quốc gia trung lập và ứng cử viên thuộc nước không nặng ký về ảnh hưởng chính trí thế giới được xem như một trong những chọn lựa hàng đầu (tất nhiên chưa kể tài năng, trình độ và kinh nghiệm ngoại giao của ứng cử viên). Điều này thể hiện rõ ở các đời Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đầu tiên: Trygve Lie (Na Uy); Dag Hammarskjold (Thụy Điển); U Thant (Miến Điện; nay là Myanmar); Kurt Waldheim (Áo); Javier Pérez de Cuéllar (Peru); Boutros Boutros-Ghali (Ai Cập). Riêng trường hợp Boutros Boutros-Ghali, yếu tố địa lý còn có một ý nghĩa nhất định, ở thời điểm mà các nước châu Phi liên tục đòi hỏi một gương mặt đại diện cho ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Ý kiến trên được ủng hộ và cổ súy trong chiến dịch tuyên truyền rầm rộ từ Phong trào không liên kết (NAM), nơi khẳng định họ sẽ không bỏ phiếu cho bất kỳ ứng cử viên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc nào, trừ đại diện Lục địa đen, tại vòng bầu chọn cuối cùng trong Đại hội đồng. Trong khi đó, Mỹ, Anh và Liên Xô không thật sự quan tâm quan điểm “quota khu vực” đối với ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Vấn đề được họ đặt nặng hơn là liệu Boutros Boutros-Ghali có gồng nổi trách nhiệm nặng nề ở bối cảnh thế giới xảy ra quá nhiều biến động phức tạp giai đoạn hậu Chiến tranh lạnh hay không (gù Boutros-Ghali là nhà ngoại giao kinh nghiệm; tốt nghiệp tiến sĩ luật quốc tế Đại học Paris)…
Washington và Boutros-Ghali
Với tiến trình tái bầu cử Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, vấn đề tất nhiên không còn nằm ở yếu tố khu vực địa lý mà cái chính được quan quâm bây giờ là sự nhìn lại khả năng Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc cũng như quan điểm của ông đối với các sự kiện xảy ra trong nhiệm kỳ trước. Kofi Annan đã không gặp khó khăn gì trong mùa tái tranh cử cực kỳ trơn tru nhưng người tiền nhiệm Boutros – Ghali từng bị Mỹ hạ bệ thẳng thừng. Trong quyển Madam Secretary – A memoir (trang 207-210), cựu Ngoại trưởng Mỹ Madeleine Washington chặn đứng Boutros – Ghali như thế nào. Bà viết: “Ngồi tại bàn làm việc ở New York, tôi đọc mỗi ngày những xung đột mới, các vụ giết người, sự phẫn nộ và vô số lời đe dọa mà phe này dành cho phe kia.
Tôi biết khắp nơi đều trông chờ Liên Hiệp Quốc và UNSC để tìm giải pháp. Chúng tôi không có thời giờ để thở. Tất cả đều khẩn cấp và chúng tôi ra quyết định dựa vào thông tin tốt nhất có được mỗi ngày, chịu ảnh hưởng từ quyết định của hôm trước, tuần trước và năm trước… Trong khi đó, xung đột quan điểm giữa Mỹ và Liên Hiệp Quốc ngày càng lớn. Tôi quyết định hành động. Năm 1996, tôi thực hiện điều này bằng cách ngăn Boutros Boutros-Ghali tham gia tái tranh cử Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ hai. Bất đồng giữa Washington và Boutros-Ghali mỗi lúc một nghiêm trọng, từ vấn đề Somalia đến giải pháp cho Rwanda. Với tư cách đại sứ thường trực Liên Hiệp Quốc, trước cuộc chiến Boutros-Ghali nhằm vào Mỹ, tôi khó có thể thuyết phục Quốc hội Mỹ tiếp tục ủng hộ các chương trình nghị sự Liên Hiệp Quốc. Điều này không phải không quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh phe Cộng hòa thời điểm đó kiểm soát hoàn toàn Quốc hội, khống chế tất cả vấn đề liên quan Liên Hiệp Quốc…
“Điều này có nghĩa Washington sẽ tiến hành một cuộc giao chiến trên mặt trận ngoại giao. Chúng tôi có lợi thế. Với tư cách thành viên thường trực UNSC, chúng tôi có thể bỏ phiếu phủ quyết nhưng điều này đem lại nhiều rủi ro. Pháp cũng là thành viên thường trực UNSC – chắc chắn sẽ chống lại chúng tôi. Wash-ington sẽ bị buộc tội độc đoán và món nợ mà Mỹ còn thiếu Liên Hiệp Quốc sẽ được hất vào mặt chúng tôi. Không có dấu hiệu Boutros-Ghali tự nguyện rút lui và luôn có khả năng rằng, một khi khói tan và không khí bớt mùi thuốc súng, chúng tôi sẽ dính vào một kẻ nào đó (ở ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc) còn tệ hơn. Trong chuyến bay đến Bosnia với tổng thống vào tháng 1.1996, tôi đặt vấn đề trên với Bill Clinton và tổng thống đồng ý sự phân tích của tôi. War-ren Christopher yêu cầu tôi thảo kế hoạch bằng văn bản, với hai ý: nhất thiết thay Boutros-Ghali; đồng thời đề xuất ứng cử viên thay thế, trong đó có một người mà tôi cho là thích hợp nhất: Kofi Annan – viên chức Liên Hiệp Quốc đầy kinh nghiệm từng lãnh nhiều trọng trách nặng nề… Trong nhiều tháng, chúng tôi giữ kín chiến dịch đưa Kofi Annan lên ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Cùng lúc, Warren Christopher thuyết phục Boutros-Ghali từ bỏ chiến dịch tái tranh cử và đưa ra một mặc cả: Boutros-Ghali tiếp tục làm thêm một năm sau nhiệm kỳ chính thức, cho đến sinh nhật lần thứ 75 của ông. Tuy nhiên, Boutros-Ghali lại “đòi” thêm nửa nhiệm kỳ (hai năm rưỡi)…
“Giữa tháng 6.1996, Ngoại trưởng Warren Christopher xì nguồn tin liên quan ứng cử viên sáng giá Kofi Annan cho tờ New York Times. Tôi nghe tin khi đang đi từ San Diego đến Los Angeles và biết ngay mình phải làm gì. Điện thoại di dộng hỏng, tôi dùng điện thoại công cộng liên lạc với các đại sứ Liên Hiệp Quốc thường trực khác. Đúng như tôi đoán, tất cả đại sứ đều bất mãn. Chiến dịch của chúng tôi xuất phát không thuận lợi bây giờ càng tồi tệ. Với Pháp và Ai Cập hậu thuẫn, 53 quốc gia châu Phi tổ chức hội nghị, tuyên bố ủng hộ Boutros-Ghali đến cùng… Mùa thu 1996 đã ngốn hết thời gian và sức lực khi chúng tôi cùng lúc thực hiện hai chiến dịch bầu cử: tái tranh cử của Bill Clinton và ngăn tái tranh cử của Boutros-Ghali. Ngày 19.11.1996, tôi phủ quyết nghị quyết cho phép Boutros-Ghali tranh cử nhiệm kỳ hai. Với tỉ lệ phiếu 14.1 (14 ủng hộ và 1 chống), cuộc đối đầu mà chúng tôi cố tránh bây giờ trở thành công khai và rõ ràng chúng tôi bị cô lập. Tổng thống Ethiopia Meles Zenawi gửi thư Tổng thống Cameroon Paul Biya (lúc đó giữ ghế chủ tịch OAU-Tổ chức thống nhất châu Phi), yêu cầu tìm ứng cử viên châu Phi thay thế. Cùng lúc, hành lang Liên Hiệp Quốc bắt đầu nhốn nháo tranh luận việc săn tìm ứng cử viên châu Phi thích hợp – người có thể đáp ứng yêu cầu của Mỹ (ủng hộ cải tổ Liên Hiệp Quốc); yêu cầu Pháp (nói tiếng Pháp giỏi) và yêu cầu Trung Quốc (không ủng hộ Đài Loan). Cuối cùng, ngày 13.12.1996, UNSC nhất trí đề cử Kofi Annan tranh cử ghế Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc lần thứ 7”…
Mạnh Kim – Kiến Thức Ngày Nay – 01.11.2006

Từ Hy Thái hậu , người phụ nữ làm sụp đổ cơ nghiệp nhà thanh – Phần 4

Công sứ liệt cường kháng nghị nhưng Từ Hy bỏ ngoài tai, lại đem sai quân đi đánh các sứ quán trong tám tuần lễ. Công sứ nước Đức, thư ký sứ quán nước Nhật bị giết khi đi đường. Tức thì tám nước Anh, Pháp, Đức, Ý, Mỹ, Nhật, Áo, Nga hợp quân, cử tướng Đức là Ven Waldersee thống lĩnh, vây hãm Đại Cô rồi đánh chiếm Thiên Tân. Quân lính Nghĩa Hòa đoàn ra ứng chiến, cổ đeo bùa, tay bắt quyết, miệng đọc thần chú, nhưng càng tiến lên càng bị bắn ngả như rạ. Quân Thanh tan vỡ, một tướng Thanh tử trận, hai tướng khác tự sát. Liên quân tiến đánh Bắc Kinh. Từ Hy vội cải trang trốn vào Tây An, không quên mang theo vua Quang Tự, Bắc Kinh thất thủ.
Thấy tình thế nguy ngập, Từ Hy phải xin thương thuyết. Do đó hòa ước Bắc Kinh ra đời năm 1901 với nhiều điều khoản ngặt nghèo, trong đó có khoản Trung Hoa phải bồi thường chiến phí 450 triệu lạng bạc khiến đất nước càng thêm kiệt quệ.
Những năm tháng cuối đời của Từ Hy
Từ sau cuộc chính biến Mậu Tuất, Từ Hy ra lệnh giam vua Quang Tự ở Doanh đài, trong hồ Tây Uyển. Nhà vua bị đày đọa cực nhục đủ điều cho đến chết, quyền hành nằm gọn trong tay Từ Hy nhưng bà không tự lập làm vua như Võ Tắc Thiên ngày trước.
Năm 1908 vua Quang Tự băng hà (37 tuổi). Có sách nói rằng biết mình sắp chết, Từ Hy sai giết Quang Tự trước để ông không còn cơ hội thi hành biến pháp. Mấy hôm sau Từ Hy cũng qua đời vì bệnh (73 tuổi) sau 46 năm cầm quyền (1862 -1908). Trước khi mất, bà đã kịp cho lập Phổ Nghi tuổi, con của Thuần Thân vương (em cùng mẹ với vua Quang Tự) lên ngôi, hiệu là Tuyên Thống. Nhưng ông vua bé con này chỉ lên ngôi vàng được 3 năm thì bị lật đổ bởi cuộc cách mạng Tân Hơi (1911) do Tôn Văn (1866 – 1925) tức Tôn Trung Sơn hay Tôn Dật Tiên lãnh đạo và chế độ quân chủ chuyên chế của Trung Hoa trải qua mấy nghìn năm cũng cáo chung.
Với bản tính thông minh và cương nghị, Từ Hy sẵn sàng đương đầu với hoàn cảnh khắc nghiệt, nhất là bọn phương Tây muốn xâu xé Trung Hoa rộng lớn, giàu tài nguyên nhưng còn lạc hậu này. Với tính cương nghị ấy, bà đã can đảm dứt bỏ mối tình đầu để đặt chân vào cung cấm, cố thực hiện cho kỳ được cái ước vọng lớn lao của mình là trở thành bậc mẫu nghi thiên hạ, cho dù Vinh Lộc có nhảy sông tự tử (nhưng không chết). Khi đến thăm và săn sóc người yêu, bà đã khuyên Vinh Lộc phải chiến thắng hoàn cảnh và cố vươn lên, vươn lên mãi. Lời khuyên ấy đã giúp cho Vinh Lộc vượt qua số phận để trở thành một vị đại thần của nhà Thanh sau này, có cơ hội nối lại tình xưa tuy lén lút.
Về phương diện tình cảm, Từ Hy là người biết yêu và yêu say đắm, nhưng về chính trị, bà là người cực lỳ tàn ác, giết bỏ không nương tay những kẻ chống lại bà như Túc Thuận, Tái viên, Đoan Hoa trong số các cố mệnh đại thần và ngay cả Thái hậu Từ An nữa. Bà không từ một thủ đoạn nào miễn là bảo vệ được chiếc ghế Hoàng thái hậu, tuy không phải là vua nhưng quyền hành chính còn lớn hơn vua, khuynh loát cả triều đình.
Tham vọng của Từ Hy quá lớn nhưng tài năng của bà có hạn nên chẳng những bà không xây dựng được một nước Trung Hoa giàu mạnh, trái lại ngày càng suy yếu, trở thành miếng mồi ngon cho các liệt cường.
Trong khi làm mưa làm gió trên chính trường Trung Hoa non nửa thế kỷ, Từ Hy đã quá say mê quyền lực, đầu óc bảo thủ nặng nề, cự tuyệt văn minh phương Tây, khinh thường các nước ngoài, quý chuộng hoạn quan, đứng đầu là An Đức Hải và Lý Liên Anh, tin dùng bọn tiểu nhân đắc thế, kiềm hãm Trung Hoa trong vòng lạc hậu khiến cho đất nước này bị liệt cường xâu xé, dân chúng khổ sở lầm than. Chẳng những thế, bà còn ăn tiêu xa xỉ, bỏ ra số tiền rất lớn để xây cung điện, tôn tạo vườn Viên Minh đã bị quân Anh đốt sạch, bỏ ra cả triệu lạng bạc để biến Di Hòa viên thành chốn bồng lai tiên cảnh nơi hạ giới làm cho công khố cạn kiệt, thuế má nặng nề. Chính bà phải chịu trách nhiệm một phần lớn trong việc làm cho cơ nghiệp nhà Thanh sụp đổ.
Huyền Viêm – kiến thức ngày nay – năm 2006